Các giai đoạn biện chứng của nhồi máu cơ tim

Thảo luận trong 'THIẾT BỊ SỨC KHỎE' bắt đầu bởi nhocsieuquay, 17/7/17.

  1. nhocsieuquay

    nhocsieuquay New Member

    Tình trạng:
    Mới 100%
    Giá:
    50000 VND
    Các giai đoạn biện chứng của nhồi máu cơ tim

    Bệnh nhân nhồi máu cơ tim thường chết chủ yếu là do các biến chứng cấp và nếu qua khỏi giai đoạn cấp cũng thường để lại một số biến chứng đôi khi rất nặng nếu không được điều trị một cách thoả đáng. Các biến chứng của nhồi máu cơ tim rất phong phú và có thể chia làm các nhóm: biến chứng cơ học, biến chứng rối loạn nhịp, biến chứng thiếu máu cơ tim, tắc mạch…

    Biến chứng sớm

    Suy tim: Thường gặp trong 2 tuần đầu, nhất là trên những bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim cũ, hoặc trên những người bị thể nặng, rộng, có cơn đau kéo dài.

    Trụy mạch biểu hiện bằng huyết áp tụt, mạch nhanh, yếu, vã mồ hôi.

    Rối loạn nhịp tim: Nhịp nhanh xoang hay gặp. Nếu nhanh nhiều và kéo dài thì tiên lượng xấu.

    Ngoại tâm thu hay gặp, nhất là khi nhồi máu cơ tim mới bắt đầu. Ngoại tâm thu nhiều, đa dạng có tiên lượng xấu.

    Tai biến tắc nghẽn mạch: Gặp trong 20 – 40% trường hợp, đặc biệt trong các thể nặng.

    Cục nghẽn mạch tạo thành ở trong tim: thường gặp trong nhồi máu cơ tim lan rộng xuyên qua thành tim kèm theo suy tim. Tắc động mạch phổi thường là kết quả của tai biến tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới hoặc nghẽn mạch buồng tim phải.

    Vỡ tim: Gặp trong 5 – 10% trường hợp, xảy ra chủ yếu tuần thứ hai. Thường gặp ở thất trái dẫn đến tràn máu màng ngoài tim làm chết đột ngột hoặc chết nhanh chóng do trụy tĩnh mạch. Vỡ vách liên thất biểu hiện bằng một tiếng thổi tâm thu ở giữa tim, có cường độ mạnh, kèm theo rung mui và suy tim phải cấp tính dẫn đến trụy mạch.

    Chết đột ngột: Gặp trong 10% trường hợp. Thường là hậu quả của những thể nặng, nhất là ở tuần lễ đầu. Nguyên nhân chết đột ngột có thể do cơn nhịp nhanh thất, rung thất, tắc mạch phổi lớn, vỡ tim, trụy mạch nặng.

    Biến chứng thứ phát:


    Hội chứng Dressler gặp từ 3 – 4% trường hợp, xuất hiện từ 1 – 4 tuần sau khi bệnh khởi phát.

    Biểu hiện lâm sàng là hội chứng viêm màng ngoài tim: đau sau xương ức, đau tăng lên khi thở sâu, khi ho, khi vận động, giảm bớt khi ngồi hoặc cúi về đằng trước. Nghe có thể phát hiện tiếng cọ màng ngoài tim. Tràn dịch màng phổi, thâm nhiễm phổi. Chụp Xquang lồng ngực: hình ảnh tràn dịch màng ngoài tim và màng phổi. Điện tâm đồ: không có dấu hiệu hoại tử lan rộng và tái phát

    Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, tốc độ máu lắng tăng. Điều trị bằng cocticoid có thể khỏi nhanh hơn. Tuy nhiên hội chứng dễ tái phát và khi tái phát nhiều sẽ trở nên rất phiền phức cho người bệnh.


    Biến chứng muộn:

    Các chứng đau:

    - Đau thần kinh nhạy cảm: Là các cơn đau ngực lan tỏa, cường độ trung bình, giống như cảm giác đau ê ẩm, nặng nề ở vùng trước tim. Những người có chứng đau này thường là những người hay lo lắng, đồng thời bị suy nhược về thể lực và tâm thần. Liệu pháp tâm lý và các thuốc trấn tĩnh thường có thể giải quyết được.

    - Đau kiểu thấp khớp: Thường gọi là viêm quanh khớp vai cánh tay, hội chứng vai – bàn tay, hay gặp ở vai và tay trái. Đôi khi chữa bằng các thuốc giảm đau thông thường cũng khỏi. Một số trường hợp phải dùng cocticoid. Tránh tiêm thuốc vào trong khớp nhất là khi bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông.
    [​IMG]

    Các ưu tiên trong điều trị: Cần thiết phải phát hiện được nhanh chóng biến chứng Hở van hai lá cấp để kịp thời đối phó. Bệnh nhân cần được điều trị nội khoa một cách hết sức tích cực và cân nhắc điều trị ngoại khoa sớm nếu có thể. Panangin là một trong những thuốc hỗ trợ trong việc điều trị về các bệnh liên quan đến tim mạch.

    Thành phần thuốc:

    * Mỗi 1 viên:

    + Magnesium aspartate 140 mg, tương đương: Mg2+ 11,8mg.

    + Potassium aspartate 158mg, tương đương: K+ 36,2 mg.

    * Mỗi 10 ml thuốc tiêm:

    + Magnesium aspartate 400mg, tương đương: Mg2+ 33,7mg.

    + Potassium aspartate 452mg, tương đương: K+ 103,3mg.

    Liều lượng, cách dùng

    + Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 1-2 viên nén bao phim, hoặc pha 2 ống tiêm Panangin trong 50-100ml dung dịch glucose 5%, rồi tiêm tĩnh mạch chậm hoặc truyền dịch nhỏ giọt chậm liên tục.

    + Panangin thích hợp cho điều trị phối hợp.
     
    Tags:

Chia sẻ trang này

Đang tải...